Khái niệm bệnh trầm cảm và phương pháp hỗ trợ điều trị

Đối phó với căn thực sự như là một “cuộc chiến trường kì”, có thể kéo dài vài tháng đến vài năm. Với những trường hợp trầm

Thuật ngữ rối loạn trầm cảm được dùng đầu tiên trong học thuyết thể dịch của Hypocrate, tiếp sau đó, Pinet mô tả trầm cảm như là một trong bốn loại loạn thần. Cho đến năm 1992, trầm cảm đã được các chuyên gia nghiên cứu hoàn thiện về khái niệm bệnh học và phân loại trong Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của WHO, mới nhất là trong Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 5 (DSM-V). Trong bảng phân loại này, trầm cảm được phân vào nhóm rối loạn cảm xúc.

Bệnh trầm cảm đang trở nên ngày càng phổ biến

Bệnh trầm cảm đang trở nên ngày càng phổ biến

Sở dĩ trầm cảm được coi như một “gánh nặng tiềm ẩn” cho xã hội bởi cho đến nay, có khoảng hơn 350 triệu người trên toàn thế giới mắc bệnh. Và theo tiên đoán của WHO, đến năm 2020 nó sẽ trở thành căn bệnh thứ hai dẫn đến tàn tật trên thế giới.

Ở Việt Nam, số người mắc trầm cảm đang tăng nhanh chóng mặt. Theo thống kê, năm 2000 có khoảng 2,47 % dân số bị trầm cảm nhưng đến nay tỉ lệ này đã tăng lên 3% dân số, bệnh không phân biệt lứa tuổi, tỷ lệ mắc ở nữ giới cao hơn nam giới. Đây là một vấn đề rất đáng báo động nhưng phần lớn mọi người đều chưa có những hiểu biết thực sự về căn bệnh này.

WHO là gì?

Theo WHO: “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn bã, mất đi hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thấy tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập trung”.

“Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, làm suy giảm đáng kể khả năng làm việc, học tập hoặc khả năng đương đầu với cuộc sống hằng ngày. Trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử. Ở mức độ nhẹ, bệnh có thể được hỗ trợ chữa trị không cần dùng thuốc. Mức độ vừa và nặng, người bệnh cần hỗ trợ điều trị bằng thuốc kết hợp liệu pháp tâm lí”.

Nguyên nhân gây nên trầm cảm

Cho đến nay, nguyên nhân gây ra trầm cảm vẫn chưa được làm rõ. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng bệnh có thể do sự tham gia của nhiều yếu tố, bao gồm sự tác động qua lại giữa các yếu tố bên ngoài (văn hoá, tình huống xã hội, quan hệ xã hội…) với các yếu tố bên trong (di truyền, thái độ, tính cách, sang chấn tinh thần, tổn thương thời thơ ấu hoặc do sinh học như: tổn thương não, thiếu hụt chất dẫn truyền thần kinh, mất cân bằng hormon,…).

Một số các yếu tố nguy cơ, gây khởi phát trầm cảm có thể bao gồm: sự cô đơn (thường ở người già), stress, thất nghiệp, đổ vỡ trong hôn nhân, thói quen sử dụng chất kích thích, tuổi thơ bị lạm dụng, có vấn đề về sức khỏe hoặc bệnh lí đau mạn tính,…

Những triệu chứng chẩn đoán bệnh trầm cảm

Trầm cảm thường đến rất lặng lẽ và mơ hồ, phần lớn các triệu chứng biểu hiện khác nhau tùy theo từng người, từng giới tính, độ tuổi, không ai giống ai. Vậy phải căn cứ vào những dấu hiệu nào để xác định bạn có mắc trầm cảm hay không?

Để chẩn đoán một người mắc trầm cảm, các bác sĩ sẽ căn cứ theo hệ thống phân loại bệnh DSM-V. Theo bảng phân loại này, người được cho là bị trầm cảm khi có ít nhất 5 trong 9 triệu chứng sau đây, kéo dài trong ít nhất 2 tuần:

1. Tâm trạng buồn bã, chán nản gần như cả ngày. Có thể nhận biết chủ quan qua cảm giác buồn chán, trống rỗng hoặc nhận biết khách quan bởi người khác (ví dụ như thấy người bệnh hay khóc).
2. Giảm hứng thú hay niềm vui trong gần như tất cả các hoạt động.
3. Giảm hay tăng cân một cách đáng kể mà không phụ thuộc vào chế độ ăn (thay đổi hơn 5% trọng lượng cơ thể) hoặc giảm hay tăng cảm giác thèm ăn mọi ngày.
4. Mất ngủ hoặc ngủ quá mức.
5. Quá kích động hoặc quá chậm chạp (có thể quan sát bởi những người khác chứ không đơn thuần là cảm giác chủ quan).
6. Mệt mỏi hoặc mất năng lượng.
7. Cảm giác vô dụng, tội lỗi quá mức hoặc ảo tưởng mỗi ngày.
8. Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung, thiếu quyết đoán.
9. Suy nghĩ thường xuyên về cái chết, có ý định tự tử lặp đi lặp lại nhiều lần.
Ngoài những triệu chứng kể trên, có thể có một số khác biệt theo giới tính, độ tuổi. Trẻ nhỏ trầm cảm có biểu hiện buồn bã, khó chịu, thất vọng. Thanh thiếu niên gồm các biểu hiện như lo lắng, hay cáu giận, ngại giao tiếp. Ở người trưởng thành thể hiện qua một số triệu chứng như mệt mỏi, chán ăn, mất ngủ, không hài lòng với mọi thứ, thích ngồi lì trong nhà; thông thường nam giới bị trầm cảm không có sự yếu đuối, đa sầu đa cảm như phụ nữ mà ngược lại, họ có thể trở nên bạo lực hơn…

Khi có những triệu chứng đó, bạn cần tới ngay các cơ sở y tế để thăm khám và hỗ trợ điều trị, tránh để mọi việc vượt ra ngoài tầm kiểm soát, gây ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như sinh hoạt hàng ngày.

Lựa chọn phương pháp hỗ trợ

Đối phó với căn bệnh trầm cảm thực sự như là một “cuộc chiến trường kì”, có thể kéo dài vài tháng đến vài năm. Với những trường hợp trầm cảm mức độ nhẹ, các bác sĩ khuyến cáo chỉ nên sử dụng các phương pháp tâm lí trị liệu như đối thoại, tập thể dục, thư giãn nghỉ ngơi, xoa bóp bấm huyệt, châm cứu và kết hợp với một số thảo dược giúp giảm lo âu, căng thẳng. Trong trường hợp trầm cảm vừa và nặng, cần thiết phải kết hợp hỗ trợ điều trị bằng thuốc và tâm lí trị liệu.

Có rất nhiều loại thuốc chống trầm cảm thuộc các nhóm khác nhau, bao gồm thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc chống trầm cảm thế hệ mới… Tuy nhiên, người bệnh cũng cần lưu ý các thuốc chống trầm cảm này có thể gây ra nhiều tác dụng không mong muốn, một số loại làm tăng nguy cơ tự tử và phần lớn chúng đều gây lệ thuộc thuốc. Bởi vậy, khi hỗ trợ điều trị trầm cảm, người bệnh cần tuyệt đối tuân theo chỉ định của bác sĩ và không được tự ý ngưng thuốc.

Trong thực hành lâm sàng, để tăng hiệu quả hỗ trợ điều trị và giảm tái phát, các bác sĩ thường lựa chọn kết hợp nhiều nhóm thuốc chống trầm cảm với nhau hoặc kết hợp với các loại thuốc khác.

Related posts:

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *